Home / Dịch vụ của chúng tôi / Dịch vụ kế toán thuế trọn gói DN / Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn trên thị trường chứng khoán

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn trên thị trường chứng khoán

Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận vốn trên thị trường chứng khoán: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Th.s Hạ Thị Thu Thủy

Tóm tắt: Nghiên cứu này đã tìm hiểu cách thức hỗ trợ DNNVV huy động vốn trên thị trường chứng khoán của Ấn Độ, Nam Phi và một số nước Châu Âu để từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. Kết quả cho thấy: i) Hầu hết các nước đều có sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV; ii) Để hỗ trợ DNNVV huy động vốn qua sàn chứng khoán, chính phủ cần tạo cơ chế để tăng nhu cầu đầu tư vào các DNNVV thông qua các hình thức như “vốn mồi”, cung cấp thông tin, hỗ trợ cung ứng….; iii) Thành lập quỹ đầu tư vào các hoạt động phát hành cổ phiếu của DNNVV nhằm thu hút các nhà đầu tư khác cùng tham gia.

Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, huy động vốn, thị trường chứng khoán, kinh nghiệm quốc tế

Chúng tôi là Kế toán Hà nội – Công ty chuyên làm dịch vụ kế toán thuế mà doanh nghiệp bạn đang cần

Dịch vụ kế toán thuế trọn gói

Dịch vụ báo cáo tài chính chuyên nghiệp – chính xác – nhanh chóng

Dịch vụ quyết toán thuế TNDN

Dịch vụ báo cáo thuế mà bạn có thể tin tưởng giao trách nhiệm

Khóa kế toán thực tế nâng cao tay nghề

Khóa kế toán cho giám đốc quản lý kế toán


 Có đến 97% doanh nghiệp đang hoạt động ở Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV)[1]. Các doanh nghiệp này đóng một vai trò quan trọng trong việc giải phóng và phát triển sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần quyết định vào tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo.

Để tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh, các DNNVV rất cần vốn để nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới trang thiết bị, mở rộng nhà xưởng… Tình trạng thiếu vốn sản xuất kinh doanh đang là rào cản lớn nhất cho sự phát triển của các DNNVV. Ở nhiều nước khác, doanh nghiệp ra đời bao giờ vốn tự có cũng là chính, vay ngân hàng chỉ là bổ sung. Còn ở Việt Nam, doanh nghiệp ra đời với vốn điều lệ rất ít, hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào vốn đi vay. Trong những năm qua, với nhiều chính sách ưu đãi tín dụng của Nhà nước, việc tiếp cận tín dụng ở các ngân hàng của các DNNVV đã thuận lợi hơn rất nhiều. Nguồn vốn từ kênh ngân hàng đã phần nào giải quyết nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thì các DNNVV rất cần có nguồn vốn dài hạn. Theo các cuộc khảo sát DNNVV được thực hiện trong Nghiên cứu FAS-SME của Ngân hàng tái thiết Nhật Bản (JBIC) cho thấy 41, trong số 104 doanh nghiệp DNNVV được phỏng vấn, có kế hoạch đầu tư vào máy móc, thiết bị và nhà xưởng. Các doanh nghiệp này thuộc các ngành khác nhau như chế biến thực phẩm, đồ nội thất, dệt may, máy móc và nhựa. Mặc dù họ có số lượng lớn các đơn đặt hàng chủ yếu từ nước ngoài và mong muốn mở rộng khả năng sản xuất, đa số các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn tài chính.

Trong khi đó, với lãi suất tăng cao thì việc tiếp cận tín dụng dài hạn thông qua các ngân hàng trở nên khó khăn hơn đối với các DNNVV. Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán (TTCK) thông qua việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và các giấy tờ có giá sẽ giúp doanh nghiệp có có nguồn vốn dài hạn để đầu tư máy móc, nhà xưởng mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, mặc dù TTCK Việt Nam suy giảm mạnh do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có tác động của việc suy giảm kinh tế, nhưng vẫn có nhiều doanh nghiệp thành công trong việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán.

Việc huy động vốn thông qua TTCK không phải là một hình thức mới ở Việt Nam nhưng trong những năm qua, nhiều DNNVV vẫn chưa thực sự coi trọng kênh huy động vốn này. Một phần là do những DNNVV thường làm ăn nhỏ lẻ, chủ yếu có nhu cầu vốn lưu động (ngắn hạn). Phần khác là do những điều kiện bắt buộc của TTCK như việc minh bạch thông tin và hoạt động của doanh nghiệp, chi phí phát hành cổ phiếu… khiến nhiều DNNVV vẫn còn e ngại.

Nhưng, với những DNNVV có chiến lược kinh doanh lâu dài và có mong muốn phát triển doanh nghiệp thành một doanh nghiệp lớn thì việc niêm yết cổ phiếu cũng là một trong những đích đến của doanh nghiệp. Vì vậy, việc huy động vốn trên TTCK sẽ giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh và phát triển doanh nghiệp.

1. Kinh nghiệm quốc tế về hỗ trợ DNNVV huy động vốn trên TTCK

Nhìn chung, tại tất cả các nền kinh tế trên thế giới, DNNVV đều gặp khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn do có quy mô nhỏ, hoạt động còn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro. Tuy nhiên, xét tới tầm quan trọng của các doanh nghiệp này trong nền kinh tế (trong lĩnh vực kinh tế cũng như xã hội), các nền kinh tế đều có những chính sách để hỗ trợ các DNNVV tiếp cận và huy động các nguồn vốn từ thị trường vốn.

1.2. Kinh nghiệm về chứng khoán hóa các khoản vay của DNNVV

Tại phần lớn các nước phát triển và một số nước đang phát triển nơi thị trường vốn đã phát triển ở một mức độ tương đối, chứng khoán hóa đã trở thành nguồn tài trợ cũng như giúp các tổ chức tài chính và doanh nghiệp chia sẻ rủi ro.

Chứng khoán hóa là cơ chế trong đó các tài sản tài chính kém thanh khoản, ví dụ các khoản vay, được chuyển đổi thành các công cụ có thể giao dịch trên thị trường vốn. Cụ thể hơn, các khoản phải thu (tài sản) của chủ tài sản ban đầu sẽ được chuyển thành 1 gói sản phẩm và bán cho pháp nhân đặc biệt (SPV – Special Purpose Vehicle). SPV sẽ tái tài trợ cho gói sản phẩm bằng cách phát hành các công cụ nợ (hay còn gọi là chứng khoán được đảm bảo bằng tài sản tài chính – ABS) trên thị trường vốn.

Một trong những lợi ích của việc chứng khoán hóa là những giao dịch ABS giúp người phát hành huy động được vốn, chia sẻ rủi ro cũng như  tăng kỳ hạn tài trợ vốn.

Lợi ích của chứng khoán hóa các khoản vay của DNNVV: Lợi thế của quá trình chứng khoán hóa các khoản vay của DNNVV là làm tăng lượng vốn vay của các DNNVV do làm giảm các hạn chế về vốn và tài trợ vốn của những người cho vay. Theo đó, các ngân hàng và các tổ chức tài chính sẽ có thêm tiềm năng để tăng nguồn lực về vốn và khả năng tài trợ vốn (kỹ thuật chứng khoán hóa DNNVV giúp thu hút những nhà đầu tư mới vốn rất ngại phải đối mặt với những rủi ro của DNNVV, đồng thời, giúp chuyển rủi ro từ các ngân hàng sang cho một bộ phận nhà đầu tư chấp nhận rủi ro trên thị trường).

Hỗ trợ từ phía nhà nước: Các cơ quan quản lý nhà nước tại nhiều nền kinh tế đã triển khai nhiều biện pháp để tối đa hóa tác động, hiệu quả và tính xúc tác của việc can thiệp vào quá trình chứng khoán hóa của các DNNVV. Từ quan điểm chính sách, việc xây dựng một khung khổ rộng rãi hơn cho quá trình chứng khoán hóa là rất cần thiết, ví dụ “tạo điều kiện dễ dàng hơn” cho việc chứng khoán hóa các khoản vay của DNNVV. Một thị trường chứng khoán hóa phát triển sẽ là tiền đề cho việc tăng số lượng các doanh nghiệp phù hợp với quá trình chứng khoán hóa, ví dụ các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hơn, hoặc DNNVV có điểm xếp hạng phi đầu tư. Tuy nhiên, cũng cần xác định sẽ có nhiều khó khăn đi cùng với quá trình chứng khoán hóa các DNNVV.

Do có tính chất phức tạp nên quá trình chứng khoán hóa sẽ phát sinh nhiều chi phí giao dịch. Đặc biệt với các ngân hàng nhỏ, chi phí cho việc chứng khoán hóa sẽ rất cao. Tuy nhiên, sự hỗ trợ của khu vực công thông qua những sàn giao dịch tiêu chuẩn sẽ giúp giảm đáng kể chi phí này: Tiêu chuẩn hóa và những giao dịch có tính chất lặp đi lặp lại sẽ giúp các nhà cung cấp dịch vụ như các cơ quan xếp hạng tín nhiệm, các nhà tư vấn luật pháp, các ngân hàng đầu tư hoạt động hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, các sàn giao dịch công cộng sẽ giúp tạo lợi thế về quy mô, theo đó quá trình chứng khoán hóa sẽ trở nên hấp dẫn hơn đối với một lượng lớn hơn các thành viên tham gia thị trường tiềm năng. Việc tiết giảm chi phí sẽ là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với những chủ tài sản ban đầu – những người thực hiện những giao dịch đầu tiên.

Do sàn giao dịch tiêu chuẩn đòi hỏi phải có chất lượng cao, đặc biệt xét về khía cạnh báo cáo, nên sẽ tạo tín hiệu tích cực đối với các nhà đầu tư, từ đó làm tăng tính thanh khoản của thị trường. Những ví dụ thành công trong phát triển thị trường này là sàn giao dịch Promise của Ngân hàng Tái thiết Đức và chứng khoán hóa tài sản theo chương trình FTPYME dành cho các DNNVV của Tây Ban Nha, những nhân tố có tính chất quyết định đối với sự thành công của việc chứng khoán hóa các khoản vay của DNNVV tại các nước này.

Một điểm khác cần nhấn mạnh là nhà nước cần đóng vai trò chấp nhận rủi ro. Cụ thể, các tổ chức nhà nước có thể đầu tư vào những tài sản ở cấp thấp hơn. Điều này là đặc biệt cần thiết đối với những giao dịch khó chứng khoán hóa, ví dụ những giao dịch dựa trên những tài sản mới và/hoặc những danh mục đầu tư có chất lượng thấp. Sự đầu tư từ phía nhà nước sẽ làm tăng tính hấp dẫn của những giao dịch loại này vì các nhà đầu tư sẽ an tâm hơn khi có sự tham gia của các nhà đầu tư chủ chốt. Sự tham gia của nhà nước sẽ đóng vai trò chất xúc tác trong việc tạo ra tính thanh khoản cho thị trường thứ cấp. Hơn nữa, đầu tư của nhà nước là cần thiết vì khối lượng giao dịch là lớn so với khoản tiền của công chúng đầu tư.

Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho thấy quá trình chứng khoán hóa là một công cụ hiệu quả để tăng cường sự tiếp cận vốn của DNNVV.

1.2. Kinh nghiệm về phát triển các sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho các DNNVV

Một hạn chế lớn trong việc các DNNVV khó tiếp cận thị trường vốn là việc các DNNVV khó có thể niêm yết trên các TTCK do không đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết (dù các doanh nghiệp này có lịch sử phát triển tốt). Theo đó, việc hình thành sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV sẽ là “cú hích” cải thiện khả năng của DNNVV trong việc tiếp cận thị trường vốn nhằm huy động vốn với chi phí thấp. Dưới đây, báo cáo xem xét kinh nghiệm của một số nước, bao gồm:

Ấn Độ

Theo ước tính, Ấn Độ có khoảng 26 triệu DNNVV, chiếm tới 45% sản lượng sản xuất công nghiệp và khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu. Điều này cho thấy vai trò to lớn của bộ phận doanh nghiệp này trong nền kinh tế của Ấn Độ.

Đầu năm 2012, sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV của Ấn Độ được thành lập với tên gọi BSE-SME. Đây là lần thứ 3 trong lịch sử phát triển TTCK Ấn Độ, các DNNVV có một sàn giao dịch để huy động vốn từ công chúng (thay vì huy động từ bạn bè và gia đình; 2 lần thành lập trước đều không thành công[2]). Sàn BSE-SME là sàn giao dịch chứng khoán của DNNVV thuộc Trung tâm giao dịch chứng khoán Bombay. Sàn này đã đón nhận đợt phát hành ra công chúng (IPO) lần đầu tiên vào tháng 2/2012.

Sàn giao dịch mới được xem là cơ hội lớn cho khoảng 26 triệu DNNVV Ấn Độ – những doanh nghiệp luôn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn. Nếu so sánh với hai sàn giao dịch chứng khoán lớn của Ấn Độ là Sàn giao dịch quốc gia (NSE) và BSE, thì điều kiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán mới là dễ dàng hơn rất nhiều (xem bảng 1).

Bảng 1: So sánh sàn BSE-SME và sàn giao dịch chính thức

Sàn BSE-SME

·     Việc phát hành được bảo đảm 100%.

·     Việc IPO sẽ chắc chắn thành công do việc phát hành được bảo đảm 100%.

·     Các DNNVV với số vốn dưới 100 triệu Rupee đủ điều kiện niêm yết.

·     Các chuẩn mực niêm yết được đơn giản hóa.

·     Không yêu cầu sự phê chuẩn của SEBI

·     Chuẩn mực tuân thủ được đơn giản hóa

·     Báo cáo năm được rút gọn và các quy định về báo cáo đơn giản hơn.

·     Yêu cầu công bố thông tin 6 tháng/lần

·     Trách nhiệm bắt buộc về việc tạo lập thị trường trong vòng 3 năm của các ngân hàng đầu tư (merchant bankers).

Sàn chính thức

·     Không bắt buộc, có thể lên tới 100%.

·     Có trường hợp IPO không thành công nếu các tiêu chuẩn về góp vốn không được đáp ứng.

·     Chỉ có các công ty có vốn từ 100 triệu Rupee trở lên đủ điều kiện niêm yết.

·     Chuẩn mực niêm yết phức tạp.

·     Cần có sự phê chuẩn của SEBI.

·     Chuẩn mực tuân thủ tương đối phức tạp.

·     Báo cáo năm chi tiết, cụ thể và có các quy định chặt chẽ liên quan đến quản trị công ty.

·     Yêu cầu công bố thông tin 3 tháng/lần.

·     Không có sự bắt buộc về tạo lập thị trường.

Nguồn: BSE-SME.

Ước tính các DNNVV của Ấn Độ đóng góp khoảng 8% vào GDP của Ấn Độ. Trong khi đó, giá trị vốn hóa của hai sàn giao dịch chứng khoán lớn của Ấn Độ vào khoảng 1.000 tỷ USD. Theo đó, nếu sử dụng tỷ lệ 8%, giá trị vốn hóa của sàn giao dịch chứng khoán cho DNNVV của Ấn Độ có thể đạt đến con số 80 tỷ USD.

Hơn nữa, các nhà kinh tế đã nêu lên những lợi ích cơ bản khi DNNVV tham gia niêm yết trên BSE-SME là:

1) Tiếp cận các cơ hội huy động vốn và tài trợ vốn trong tương lai

2) Tăng giá trị nhận diện thương hiệu, uy tín

3) Tài trợ bởi Vốn mạo hiểm (Venture capital)

4) Tăng tính thanh khoản cho cổ đông

5) Tạo ra các cơ chế khuyến khích người lao động

6) Tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng thông qua hoạt động mua lại và sáp nhập

7) Khuyến khích tinh thần sáng tạo, tinh thần doanh nghiệp

8) Phân bổ rủi ro hiệu quả hơn

Nam Phi

Một ví dụ khác về sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV là AltX (Nam Phi), sàn giao dịch cho DNNVV đầu tiên của châu Phi. AltX cho phép các doanh nghiệp quy mô nhỏ niêm yết cổ phiếu với một hệ thống quy định linh hoạt hơn rất nhiều so với sàn giao dịch chính thức.

Bảng 2: Sự khác biệt giữa sàn AltX và Sàn giao dịch chính thức (Johennesburg – Nam Phi)

Tiêu chuẩn niêm yết Sàn giao dịch chính thức Sàn AltX
Vốn cổ phần tối thiểu 25 triệu rand 2 triệu rand
Lịch sử lợi nhuận 3 năm Không yêu cầu
Lợi nhuận trước thuế 8 triệu rand Không yêu cầu
Phân nhóm cổ đông 20% 10%
Số lượng cổ đông 300 100
Bảo lãnh/Tư vấn Bảo lãnh Tư vấn
Công bố thông tin trên báo chí Bắt buộc Tự nguyện
Số lượng giao dịch 2 2
Yêu cầu đặc biệt Không Giám đốc tài chính chỉ định
Phí niêm yết hàng năm 0,04% vốn hóa thị trường bình quân (tối thiểu 26.334 rand, tối đa 121.700 rand) 22.000 rand
Yêu cầu về giáo dục Không Tất cả giám đốc phải tham dự chương trình đào tạo dành cho Giám đốc

Nguồn: Sàn giao dịch Johannesburg.

Anh

Thêm một ví dụ thành công khác về thị trường chứng khoán dành riêng cho DNNVV là Anh, cụ thể Anh đã phát triển một số sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV, bao gồm:

AIM (Alternative Investment Market). Đây là sàn tự chủ, là một nhánh của Sàn giao dịch chứng khoán London (LSE). Mặc dù phần lớn các công ty niêm yết ở AIM không phải là các công ty mới thành lập nhưng quy mô của chúng đa phần là nhỏ, và chứa đựng yếu tố rủi ro cao. AIM tạo điều kiện cho các DNNVV giao dịch với các quy định linh hoạt hơn. Mới chỉ được thành lập từ năm 1995 nhưng AIM đã huy động được trên 25 tỷ Pound cho trên 3.000 công ty. Tính linh hoạt của AIM thể hiện ở việc có ít quy định hơn, không yêu cầu về mức vốn hóa hoặc số lượng cổ phần phát hành. Một số đặc điểm khác bao gồm: không yêu cầu số lượng tối thiểu cổ phần phải thuộc sở hữu của công chúng đầu tư; không yêu cầu về hồ sơ giao dịch; không cần có sự cho phép trước đối với cổ đông khi thực hiện giao dịch (ngoại trừ các giao dịch làm thay đổi quyền kiểm soát); quy định nới lỏng hơn về việc mua lại…

TechMark là một sàn giao dịch chuyên biệt khác hoạt động tương đối giống với AIM và cũng là một nhánh của LSE. Hoạt động với nguyên tắc chung nhưng TechMark dành riêng cho các công ty công nghệ.

Ofex là một thị trường hoạt động độc lập khác dành riêng cho việc phát hành với quy mô nhỏ hơn ở Anh. Quy trình hoạt động của Ofex tương đối giống với AIM và TechMark nhưng đơn giản hơn. Thị trường cũng kém thanh khoản hơn nếu so sánh với AIM.

Một số nước châu Âu khác

Tương tự Anh, một số nước châu Âu khác đã phát triển sàn giao dịch chứng khoán dành riêng cho DNNVV, ví dụ:

Sở giao dịch chứng khoán Hy Lạp (ATHEX) đã thành lập sàn MTF (Alternative Market – EN.A.) để đáp ứng nhu cầu huy động vốn của DNNVV với các tiêu chuẩn niêm yết và công bố thông tin thấp hơn khi so sánh với sàn ATHEX. Đồng thời, ATHEX cũng giới thiệu một chỉ số giá thị trường riêng cho sàn MTF, được xem là công cụ đáng tin cậy để đánh giá hiệu quả hoạt động của các cổ phiếu niêm yết trên thị trường. Đồng thời, Chính phủ cũng đang nghiên cứu nhiều biện pháp để tăng tính tăng khoản, tạo thêm những ngành nghề niêm yết mới (ví dụ các công ty chuyên về năng lượng xanh).

Sàn Entry Standard (Đức) được Deutsche Börse thành lập dành riêng cho DNNVV. Các DNNVV niêm yết trên sàn này sẽ có quá trình giao dịch đơn giản, nhanh gọn và chi phí thấp hơn so với các sàn phổ thông là General Standard và the Prime Standard.

Deutsche Börse cũng triển khai nhiều chỉ số giá để hỗ trợ DNNVV, cụ thể:

Chỉ số Benchmark/Selection như SDAX, bao gồm 50 công ty lớn nhất xét về vốn hóa và lượng giao dịch nằm dưới DAX (30) và MDAX (50).

Những chỉ số đặc trưng như GEX (German Entrepreneurial Index), bao gồm những công ty được quản lý bởi người chủ sở hữu; và DAXplusFamily Index, bao gồm những công ty được sở hữu bởi gia đình hoặc người sáng lập.

Ngoài ra, Deutsche Börse còn tổ chức hội thảo, hội nghị về thị trường vốn để hỗ trợ các công ty tiếp cận với nhà đầu tư, cũng như chuyển giao tri thức và kinh nghiệm về thị trường vốn; cũng như hỗ trợ các nhà đầu tư khi tham gia thị trường (hướng dẫn online; báo cáo cổ phiếu; dịch vụ dữ liệu qua điện thoại…).

  1. Một số bài học rút ra cho Việt Nam

Có thể thấy, để DNNVV hoạt động hiệu quả và thu hút được vốn trên thị trường vốn, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, tài trợ vốn qua thị trường vốn là một quá trình phức tạp, bao gồm nhiều hình thức tài trợ khác nhau có thể đáp ứng yêu cầu của DNNVV nếu các doanh nghiệp này tham gia vào thị trường. Tuy nhiên, các doanh nghiệp này cần nhận được sự hỗ trợ của chính phủ do năng lực của họ khi tham gia thị trường còn hạn chế.

Thứ hai, điều quan trọng nhất khi hỗ trợ DNNVV tham gia thị trường vốn là phải tăng nhu cầu đầu tư vào DNNVV. Điều này có thể được thực hiện thông qua chính sách khuyến khích, cung cấp thông tin đầy đủ, cung cấp nguồn vốn “mồi” cho nhà đầu tư.

Thứ ba, khi dùng vốn nhà nước để kích hoạt (mồi), cần đảm bảo sự công bằng và hiệu quả, tạo ra giá trị đầu tư ròng mới mà không tạo ra sự thiên lệch giữa các hình thức đầu tư.

Thứ tư, để tăng nhu cầu đầu tư, cần có những biện pháp để hỗ trợ việc cung ứng của các doanh nghiệp quy mô nhỏ hơn có nhu cầu tham gia thị trường.

Thứ năm, những biện pháp từ phía nhà nước (quy định và chính sách khác) cần được đánh giá tác động đối với nhu cầu đầu tư cũng như khả năng cung ứng của các DNNVV niêm yết.

Theo đó, các chính sách hỗ trợ từ phía nhà nước có thể thực hiện bao gồm:

– Tìm biện pháp để tạo điều kiện thuận lợi hơn (thông qua việc giảm, rút gọn quy trình và giảm chi phí) cho DNNVV trong quá trình tìm kiếm nguồn tài trợ từ thị trường vốn cũng như niêm yết: (i) Tạo ra các sàn giao dịch trên thị trường chứng khoán cho các DNNVV. Đáng chú ý, cần rà soát lại các yêu cầu niêm yết trên thị trường cũng như tăng cường nhận thức của công chúng đầu tư và có những biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước để các công ty có thể tiếp cận và sử dụng những sàn giao dịch này; (ii) Phát triển ABS (có thể học tập kinh nghiệm từ chương trình P-CBO của Hàn Quốc). Thông qua quá trình này, ngay cả các DNNVV có định mức tín nhiệm thấp cũng có thể huy động được vốn.

– Thực hiện ưu đãi thuế (và loại bỏ những hạn chế hiện có) đối với các nguồn vốn đầu tư vào các DNNVV niêm yết (để tăng cầu đầu tư).

– Khoản đầu tư của nhà nước nên tập trung vào những DNNVV đang ở giai đoạn phát triển (đầu tư mạo hiểm) (để tăng cầu và tăng cung).

– Thiết lập quỹ để đầu tư vào các hoạt động IPO nhằm thu hút các nhà đầu tư khác (để tăng cầu đầu tư).

– Tạo sự phối hợp, cộng tác công – tư để phổ biến, truyền bá những nghiên cứu đáng tin cậy và có chất lượng về SME cho rộng rãi công chúng đầu tư (để tăng cầu và tăng cung).

– Có biện pháp hỗ trợ những DNNVV có nhu cầu niêm yết (để tăng cầu và tăng cung).

Tài liệu tham khảo:

  1. Bataa Ganbold (2008), Improving Access to Finance for SME: International Good Experiences and Lessons for Mongolia”, IDE-JETRO No. 438.
  2. Nazik Fadil (2012), The Growth Choices of French Listed SMEs”, Normandy Business School.
  3. Modinat O. Olusoji, Edwin E. Enofe (2012), Capital Market and the Development of the Small And Medium-scale Enterprises in Nigeria.
  4. Amar Kakaria (2012), BSE-SME Exchange: An Initiative to Strengthen SMEs.
  5. Arunma Oteh, Making capital markets work for SMEs in Africa, Securities Exchange Commission, Nigeria.
  6. SME access to capital markets funding, Federation of European Securities Exchanges – FESE.

[1] Sách trắng DNNVV Việt Nam 2013, Cục Phát triển doanh nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư

[2] Sáng kiến thứ nhất là sàn giao dịch OTC được thành lập năm 1990 với mục tiêu trở thành sàn giao dịch Nasdaq của Ấn Độ. Sàn đã giới thiệu rất nhiều khái niệm mới đối với thị trường vốn của Ấn Độ vào thời điểm đó như giao dịch toàn quốc trên cơ sở bảng điện, trách nhiệm của các doanh nghiệp, tạo lập thị trường, giao dịch chứng khoán tạm thời. Tuy nhiên, thị trường xấu đi và suy giảm trong năm 1992 đã giết chết sáng kiến này.

Sáng kiến thứ hai là sàn giao dịch BSE Indonext, được thành lập bởi Bộ trưởng tài chính P.Chidambaram vào năm 2007 với mục tiêu phục vụ việc niêm yết các DNNVV trên các sàn giao dịch chứng khoán vùng. Tuy nhiên, do các sàn giao dịch chứng khoán vùng không thể thu hút được sự tham gia của các nhà đầu tư do thiếu công nghệ tiên tiên nên BSE phải triển khai rất nhiều biện pháp hỗ trợ. Tuy nhiên, các doanh nghiệp niêm yết trên BSE Indonext không thể thu hút được sự quan tâm của các thành viên tham gia thị trường.


Kế toán Hà nội là thương hiệu uy tín 03 năm liền do người tiêu dùng bình chọn
Có đội ngũ kế toán trên 10 năm kinh nghiệm làm kế toán doanh nghiệp, kế toán trưởng
Chúng tôi có dịch vụ tốt nhất với giá cả tốt nhất
Công ty Dịch vụ kế toán Hà Nội
Địa chỉ: 322 – Lê Trọng Tấn – Thanh Xuân – Hà Nội
Liên hệ ngay 0966 27 1188
Email: [email protected]
Website: https://ketoanthuedoanhnghiep.com

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Đăng ký nhận bản tin